Sự kiện bất khả kháng theo quy định Pháp luật dân sự

Sự kiện bất khả kháng theo quy định của Pháp luật Dân sự.

Điều 584 BLDS 2015 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả khánghoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này”.

So với Điều 604 BLDS 2005, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 584 BLDS 2015 được sửa đổi, bổ sung theo hướng hợp lý hơn với thực tế phát sinh tranh chấp. Tại Điều 604 BLDS 2005, trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng được nhà làm luật xây dựng theo hướng người gây thiệt hại phải có “lỗi cố ý hoặc vô ý”. Với quy định như vậy, ngoài việc chứng minh người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hại cần phải chứng minh người gây thiệt hại có lỗi. BLDS 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng theo hướng có lợi hơn cho người bị thiệt hại. Theo đó, trách nhiệm BTTH phát sinh khi có các điều kiện: có thiệt hại xảy ra; hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra.

Điểm bất hợp lý của Điều 604 BLDS 2005 là điều kiện để phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng phải có lỗi của người gây thiệt hại, do đó, với những trường hợp thiệt hại là do tài sản gây ra thì hầu như cơ quan chức năng rất “lúng túng” khi giải quyết. Đó là những trường hợp mà tài sản gây ra thiệt hại nhưng lại không chứng minh được lỗi của bất kỳ chủ thể nào. Không có lỗi cố ý cũng như vô ý. Những tài sản là súc vật, cây cối, nhà cửa, công trình xây dựng, máy móc, thiết bị,… mà trong quá trình tồn tại, vận hành chúng có khả năng gây thiệt hại bất cứ lúc nào cho những người xung quanh, nguy cơ tiềm tàng gây thiệt hại vượt khỏi sự kiểm soát của con người, tức là tự thân các tài sản này gây ra thiệt hại cho người khác mà không phải do lỗi của người quản lý, sử dụng. Thực tế, những thiệt hại thuộc dạng này rất thường xảy ra. Chính vì lẽ đó, khoản 3 Điều 584 BLDS 2015 đã khắc phục thiếu sót bằng cách bổ sung thêm căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH là “tài sản gây thiệt hại”. Quy định này nhằm mục đích bù đắp phần nào thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người bị thiệt hại, dù người quản lý hợp pháp tài sản đó không có lỗi nhưng thiệt hại thực tế do tài sản đó gây ra là có thật.

Đáng chú ý, tại khoản 2 Điều 584 BLDS 2015 có quy định thêm trường hợp do “sự kiện bất khả kháng” hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì bên gây thiệt hại không phải bồi thường, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận bồi thường hoặc luật có quy định khác.

Theo khoản 1 Điều 156 BLDS 2015 (thay thế khoản 1 Điều 161 BLDS 2005), sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. Khi có sự kiện bất khả kháng xảy ra thì bên gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm dân sự BTTH.

Chính vì khi sự kiện bất khả kháng xảy ra thì bên có dấu hiệu có lỗi (hay vi phạm hợp đồng) được hưởng quyền miễn trừ trách nhiệm dân sự nên có thể thấy việc xác định một sự kiện nào đó có phải là bất khả kháng hay không là việc rất quan trọng. Ví dụ: một người bị điện giật chết do cột điện phóng điện khi trời mưa. Cột điện mà phóng điện gây chết người chắc chắn là không an toàn, do lỗi của công ty điện lực. Tuy nhiên, thường thì phía điện lực lý giải rằng do trời mưa, mà trời mưa thì dù có khắc phục bằng cách nào đi chăng nữa thì cột điện vẫn có thể phóng điện. Do vậy đây là “sự kiện bất khả kháng”!?

Để coi một sự biến là một trường hợp “bất khả kháng” theo BLDS 2015, phải có 03 điều kiện.

Một là, đây phải là “sự kiện xảy ra một cách khách quan”. Sự kiện này có thể là sự kiện tự nhiên như thiên tai, nhưng cũng thể là do con người gây ra như hành động của một người thứ ba. Về tính khách quan, trong thực tế, giới hạn giữa khách quan và không khách quan đôi khi rất mỏng manh. Khi một doanh nghiệp không thể thực hiện được hợp đồng với đối tác của mình do công nhân của doanh nghiệp đình công thì có được coi là sự kiện xảy ra một cách khách quan không?

Hai là, đây phải là sự kiện “không thể lường trước được” tại thời điểm giao kết hợp đồng nhưng xảy ra sau thời điểm này. Các bên có thể không lường trước được một sự kiện xảy ra tại thời điểm giao kết. Trong trường hợp như vậy thì chúng ta không áp dụng chế định liên quan đến bất khả kháng. Ví dụ, công ty A nhận vận chuyển một lô hàng cho công ty B bằng tàu C. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, tàu C đang được sử dụng ở ngoài khơi và bị đắm chìm nhưng việc này chưa được thông báo về công ty. Như vậy, các bên không lường được sự kiện làm cản trở thực hiện hợp đồng nhưng xảy ra tại thời điểm giao kết. Ở đây, không áp dụng chế định bất khả kháng mà vận dụng những quy định liên quan đến giao kết hợp đồng.

Ba là, sự việc xảy ra “không thể khắc phục” được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết.

Nhìn chung, vấn đề bất khả kháng còn quy định rất chung chung, thậm chí là khó hiểu cũng như không bao quát được các trường hợp trong thực tế. Điều này sẽ dẫn tới những kết quả xét xử khác nhau của tòa án với cùng một sự biến pháp lý, bởi nếu xác định đúng là sự kiện bất khả kháng thì người gây thiệt hại không phải chịu trách bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật quy định khác.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *